Cập nhật:  01/07/2021 10:24:13 (GMT+7)  In bài này

Kiến tạo môi trường biển: tiền phương mới của cuộc chiến chống biến đổi khí hậu    

 

Tại nhiều nơi trên thế giới, có không ít các dự án tinh vi đang tìm cách để "ép" nước biển hấp thụ khí CO2. Song luôn tồn tại lời cảnh báo về những hậu quả chưa lường trước.

 

bong bóng khí metan

Bong bóng khí metan đông đá dưới một hồ ở Trung Quốc. Phần khí metan thoát ra khi băng ở Bắc Cực tan chảy có thể làm khí hậu nóng lên 1 độ C ngay lập tức, nhưng kiến tạo môi trường có thể khắc phục vấn đề này bằng muối sắt. (Ảnh: Rex/Shutterstock)

 

Tom Green đã nung nấu trong đầu một kế hoạch để giải quyết nạn biến đổi khí hậu. Nhà sinh vật học người Anh kiêm giám đốc của dự án từ thiện Project Vesta này muốn biến hàng nghìn tỷ tấn CO2 thành đá rồi ném xuống đáy đại dương.

 

Ông Green thú thực rằng ý tưởng của mình nghe có vẻ rất "táo bạo". Kế hoạch này sẽ giúp chôn cất carbon trong khí quyển nhờ việc bỏ cát màu đậu xanh xuống dưới biển. Cụ thể, loại cát này có thành phần là olivin – một loại đá núi lửa phổ biến, thứ còn được giới kim hoàn gọi là đá peridot. Và nếu những tính toán của Green là chính xác thì khi rải loại đá này ở ngoài khơi 2% đường bờ biển trên thế giới, nó sẽ giúp lưu trữ toàn bộ lượng khí thải carbon của cả nhân loại mỗi năm.

 

Kế hoạch này đặt nền tảng vào một quá trình tự nhiên gọi là phong hóa. "Phong hóa đã tồn tại trên hành tinh này hàng tỷ năm rồi. Khi gặp mưa, một phần nhỏ đá núi lửa sẽ phân giải vào nước, kích hoạt một phản ứng hóa học mà trong đó có sử dụng CO2 từ không khí. Phần carbon này sẽ được tích tụ dưới biển, ở đó, chúng được sử dụng bởi những sinh vật vôi hóa biển như san hô và các động vật có vỏ. Vỏ và xương của những loài này sau đó sẽ tích tụ dưới đáy biển dưới dạng trầm tích và cuối cùng là biến đổi thành đá vôi", Green giải thích cho ý tưởng của mình.

 

olivin

Đá olivin núi lửa đang được dự án Project Vesta thử nghiệm để lưu trữ carbon hấp thụ bởi đại dương. (Ảnh: Project Vesta)

 

Đá olivin dễ dàng bị phong hóa, và nếu nó cứ bị khuấy lên bởi dòng nước biển thì "nó sẽ càng nhanh tan, quá trình này sẽ xảy ra ở khung thời gian phù hợp với con người". Chưa kể nó cũng không phải là loại khoáng thạch hiếm thấy, người ta có thể tìm thấy olivin ẩn trong cát ở những bãi biển thuộc quần đảo Galapagos và ở Hawaii.

 

Ý tưởng dùng nước biển để hấp thụ carbon dư thừa không phải quá xa xăm, Green khẳng định. Trên cùng một đơn vị khối lượng, nước biển có thể hấp thụ nhiều CO2 hơn không khí tới 150 lần. "Chưa kể, đại dương vốn đã và đang hấp thụ tới 30% lượng CO2 dư thừa mà chúng ta thải ra", ông Green nói. Ông và các đồng nghiệp đang chuẩn bị để thử nghiệm chu trình của mình ở hai vịnh nhỏ của vùng biển Caribbean.

 

Tuy vậy, vẫn còn tồn tại rất nhiều ẩn số. Liệu sự can thiệp này có thành công? Ai là người đủ thẩm quyển để cho phép dự này này được tiếp tục? Liệu có tác dụng phụ nào không? Dự án này bao hàm trong nó là những phương trình hóa học phức tạp, cùng với đó đó là mục tiêu thúc đẩy quá trình phong hóa diễn ra nhanh hơn tốc độ tự nhiên của nó. Sự hiểu biết của chúng ta về cách đại dương hoạt động gần như đang chẳng thấm vào đâu. Nhưng trước cuộc đua để hàn gắn những tổn thương mà chúng ta đã gây ra cho hành tinh này, đâu đó vẫn có hy vọng rằng vùng đại dương lớn và sống động kia sẽ là cứu cánh cho con người.

 

Tăng khả năng hấp thụ carbon tự nhiên trên đất liền thôi chưa bao giờ là đủ để ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu. Peter Wadhams, giám đốc Nhóm Vật lý Đại dương Cực tại Đại học Cambridge và là tác giả của cuốn sách A Farewell to Ice (Tạm dịch: Vĩnh biệt băng cực), nói rằng: "Nếu muốn loại bỏ toàn bộ khí thải công nghiệp ở châu Âu, ta sẽ phải biến cả khu vực này thành một khu rừng nguyên sinh khổng lồ. Hiệu quả thì có đấy nhưng chẳng thích hợp chút nào."

 

Ngoài ý tưởng của Green, hiện còn nhiều những ý tưởng tinh vi khác đang được thảo luận. Người ta còn muốn khôi phục hệ nguyên sinh rừng dưới mặt nước của tạo bẹ và cỏ biển; làm mát nước bề mặt bằng cách tạo ra bong bóng khí để đưa nước lạnh từ dưới đáy lên; phun mây làm từ nước biển để phản chiếu lại nhiệt năng truyền từ mặt trời.

 

Nước Anh đang trong giai đoạn chuẩn bị tổ chức Hội nghị Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc vào tháng 11 tới, đây cũng là lúc hàng tá những ý tưởng tương tự được đặt vào nghi vấn. Đa số chúng đều phụ thuộc nhiều vào chu trình khôi phục cân bằng vốn có của đại dương và đi theo công thức chung: củng cố chúng để từ từ làm mát, hấp thụ carbon, bảo vệ băng Bắc Cực hay thậm chí là giảm nguy cơ của những cơn bão.

 

Chẳng ai biết liệu những ý tưởng này có thành công hay không, hoặc đâu là hậu quả mà chúng có thể mang lại. Chúng đều được liệt vào dạng biện pháp kiến tạo môi trường (geo-engineering) – cụm từ "bẩn thỉu" đối với những nhà bảo vệ môi trường. Bởi đa phần những tác động của con người vào tự nhiên đều đi theo một kết quả không như mong đợi: vào thập niên 1930, Úc thả cóc mía để bảo vệ mùa màng cho cây mía rồi vô tình phá hỏng hệ động vật bản địa cho tới tận hiện tại. Rồi luôn có một phần nào đó trong nhóm ngành công nghiệp phát thải nhiều carbon sẽ nhìn nhận những giải pháp này như một cái cớ để né tránh cam kết giảm thiểu khí thải, né tránh việc phải thay đổi mô hình kinh doanh của mình.

 

kiến tạo môi trường biển

Giáo sư Gaurav Sant của UCLA đã giúp phát triển công nghệ có thể trích xuất CO2 từ đại dương, cho phép nước biển có thể hấp thụ thêm CO2. (Ảnh: UCLA)

 

Gaurav Sant, giám đốc của Viện UCLA về Quản lí Carbon, cho rằng chúng ta không còn thời gian để mà tranh cãi nữa. "Điều gì có thể xảy ra à? Nói ngắn gọn là chúng tôi chẳng biết, và tôi cũng chẳng nghĩ là có ai khác cũng biết đâu. Đơn giản là ta cứ làm đi rồi sẽ sớm biết thôi. Vấn đề hiện tại đang lớn vượt ngưỡng, tới mức mà chúng ta không thể cứ tập trung tìm kiếm một ý tưởng hoàn hảo bởi nếu cứ mãi ám ảnh với hoàn hảo thì sẽ chẳng có ý tưởng nào đủ tốt."

 

Sant đang muốn lôi kéo ta tới một ý tưởng khác mà ông cùng các kĩ sư của UCLA đang phát triển. Chỉ cách bờ biển một vài trăm dặm, họ đã phát triển một chiếc máy bắt chước cách vỏ sò được tạo ra. Nó được gọi là lò phán ứng dòng chảy và hoạt động bằng cách kiềm hóa nước biển để kích thích cho CO2 phản ứng với magie và canxi có trong nước biển, tạo thành magnesit và đá vôi. Sau đó nước biển sẽ được chảy ra sau khi đã loại bỏ CO2 để có thể tiếp tục hấp thụ CO2 mới. Một sản phẩm phụ của quá trình này là hidro và có thể được chiết xuất để làm nhiên liệu.

 

Đây là ý tưởng tương tự với việc phong hóa olivin trong đại dương, kế hoạch của Sant hiện đang dùng trong những nghiên cứu nhỏ rồi sau đó mới từ từ mở rộng. Nhóm thực hiện đặt mục tiêu là loại bỏ được trong khoảng từ 10 tới 20 tỷ tấn CO2 từ không khí, bắt đầu từ 2050.

 

Sant cho biết là để làm ra một hệ thống đủ lớn và sau đó là hàng nghìn hệ thống như thế sẽ là một thách thức lớn. "Ai cũng huênh hoang rằng ‘chúng tôi sẽ làm cái này cái nọ trong năm năm', nhưng đó là vì họ đánh giá những thách thức quá thấp. Chúng tôi đang muốn nói tới một tập đoàn khổng lồ với kích thước và quy mô chưa từng thấy trong nhân loại.", ông nói.

 

Quy mô tuyệt đối của hoạt động kiến tạo môi trường cần có để khắc phục biến đổi khí hậu đồng nghĩa với việc dù ý tưởng có nổi bật tới đâu thì nó cũng sẽ phải gặp khó. Một ví dụ là ý tưởng được nhiều người nhắc tới là kích thích sự phát triển của những thực vật phù dù trôi nổi trên mặt biển. Chúng sẽ giúp hấp thụ CO2 khi thực hiện quang hợp, đồng thời có thể được kích thích phát triển bằng các loại chất dinh dưỡng, ví dụ như sắt chẳng hạn.

 

Nhưng Jean – Pierre Gattuso, giám đốc nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm Hải Dương học Villefranche ở Paris, cho rằng những nghiên cứu mới nhất cho thấy là ý tưởng trên không khả thi. "Những thí nghiệm gây giống trên đại dương đã được thực hiện để chứng minh rằng việc bổ sung sắt có thể kích thích sinh vật phù du phát triển. Tuy nhiên lượng CO2 bị cô lập vĩnh viễn dường như rất nhỏ bởi hầu hết các chất hữu cơ được tạo ra đều quay trở lại thành CO2 trước khi chúng có cơ hội được lưu trữ dưới đáy biển. Ngoài ra, một hậu quả ngoài mong muốn chính là nó có thể tạo ra một vùng nước ít oxy."

 

thực vật phù du

Một bức ảnh của NASA chụp lại khu vực phía Nam của Đại Tây Dương cho thấy sự nở rộ của thực vật phù du (màu xanh lá và xanh dương nhạt). Loại thực vật tí hon này có thể cô lập CO2. (Ảnh: Nasa/Zuma/Rex)

 

Một rào cản khác cũng mới xuất hiện gần đây trong nỗ lực nhằm vô hiệu hóa khí metan thoát ra từ dưới lớp băng đang tan chảy tại Bắc Cực. Tần suất phát hiện bong bóng khí metan nổi lên tại Bắc Cực đang ngày một cao và Wadhams thì đang phật lòng vì Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change – IPCC) vẫn chưa hề chấp nhận giả thiết của ông rằng một khi chỗ băng trên tan chảy, chúng ta sẽ phải đối mặt với thảm họa gây ra bởi lượng khí metan đã bị tích tụ trong suốt 20.000 năm. Theo nước tính của ông thì trữ lượng metan dao động trong khoảng từ 50 tới 700 tỷ tấn, đủ để "khiến nhiệt độ tăng lên khoảng 1 độ C ngay lập tức" và đẩy nhanh tiến trình cán mốc khí hậu tăng 2 độ C so với thời kì tiền công nghiệp khoảng từ 15 tới 35 năm.

 

Những biện pháp phòng tránh bằng kiến tạo khí hậu tốt nhất mà ta có đều đang trông mong vào đại dương. "Nếu ta thổi bụi mịn hoặc aerosol của muối sắt clorua ở trên mặt biển nơi khí metan đang sủi bọt thì nó sẽ phản ứng với khí metan, tạo ra hidroxit sắt, hợp chất có thể được hoà tan vào trong nước.", ông Wadhams giải thích.

 

Đáng thất vọng cho những ai ủng hộ lý thuyết này bởi một chuyến thử nghiệm được thực hiện trong năm nay bởi trường Đại học Copenhagen đã không tìm thấy bằng chứng cho rằng nó sẽ đủ hiệu quả để loại bỏ lượng khí metan khổng lồ đã ước tính.

 

Wadhams là một thành viên của nhóm những cá nhân đang tìm kiếm các giải pháp khác, dù vậy thì ý tưởng "thổi muối" chính là giải pháp cuối cùng ở hiện tại. "Kết quả, dù khá đáng thất vọng nhưng vẫn cho thấy nó có tác dụng. Chỉ là nó chưa đủ hiệu quả như mọi người kì vọng. Hay để diễn tả bằng một cụm từ buồn hơn thì là ‘chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu thêm'.", ông nói.

 

phun nước biển

Ảnh ý tưởng về tàu Flettner dùng để phun nước biển vào không khí để giúp mây phản lại nhiều ánh sáng mặt trời hơn. (Minh họa bởi: J.MacNeill)

 

Giống với những ý tưởng kiến tạo môi trường khác, một biện pháp bảo vệ tiềm năng có thể làm mát được nước Bắc Cực để chỗ metan kia không bao giờ thoát ra ngoài đều bị sa lầy vào nỗi sợ hãi và chính trị.

 

Phương pháp "làm sáng mây đại dương" sẽ phun sương mù mịn làm từ nước biển vào mây, nhờ đó muối sẽ làm chúng sáng hơn, tăng khả năng hắt lại nhiệt lượng từ mặt trời.

 

Phương pháp này đã được đưa vào thử nghiệm theo một phần chương trình nghiên cứu tài trợ bởi chính phủ Úc để hạn chế thiệt hại gây ra cho Rặng san hô Great Barrier, còn Wadhams thì tin rằng kế hoạch này có thể được ứng dụng trên quy mô lớn. Tuy nhiên, ông tin rằng điều cấp bách lúc này là triển khai nó "trên một quy mô hạn chế hơn, xung quanh các rìa của Bắc Cực" nơi mà rủi ro khí metan thoát ra đang là cao nhất.

 

Những con tàu với các ống buồm lớn sẽ phun nước biển thông qua một hệ thống được phát triển bởi Stepehn Salter, giáo sư danh dự về thiết kế kỹ thuật tại Đại học Edinburgh. Wadhams khẳng định đây "là một phương pháp chủ đạo để giảm thiểu khí hậu nóng lên và cứu chúng ta khỏi thảm họa khí metan. Nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ về phương pháp này, vẫn chưa có tầm nhìn và đặc biệt là tiền. Dự án này có thể sẽ tiêu tốn vài chục triệu USD khi đi vào thực tế.".

 

Với việc nước Anh đăng cai sự kiện Cop26 vào tháng 11 tới, ông thúc giục: "Chúng ta không thể cứ khoanh tay đứng nhìn được nữa. Ý tưởng làm sáng mây trên biển chính là phương pháp dễ làm nhất rồi. Có thể nó sẽ thành công và gặt hái được thành tựu lớn."

 

Nhưng ngay cả khi Wadhams tin rằng chu trình trên vô hại thì Ray Pierrehumbert, giáo sư vật lý tại Đại học Oxford lại thấy điều chẳng lành.

 

Vị giáo sư cho biết: "Nhiều dấu hiệu thời tiết trong đó có hiện tượng gió mùa phụ thuộc vào sự chênh lệch về nhiệt độ giữa đại dương và lục địa. Nếu ta làm gì đó để hạ nhiệt biển Bắc Đại Tây Dương, giả sử là để bảo toàn vùng biển băng đi chăng nữa, thì nó có thể làm sai lệch về lượng mưa trong các vùng nhiệt đới. Từng phần của khí quyển đều liên kết với nhau, do đó, nếu không cân bằng giữa việc làm nóng và làm lạnh một cách cẩn thận thì ta có thể sẽ phải đối mặt với các kiểu thay đổi về hệ thống khí hậu khác nhau mà trong đó có nhiều hệ quả rất khó lường trước.".

 

Ông cũng bổ sung rằng một rủi ro khác chính là việc coi công nghệ như một cách để né tránh nhiệm vụ cắt giảm khí thải. "Một khi anh thải ra khí CO2, hiệu ứng làm nóng của nó sẽ tiếp diễn trong vài nghìn năm. Ngoài ra, phương pháp làm sáng mây phụ thuộc vào phân tử muối, thứ sẽ rơi ra khỏi bầu khí quyển sau đó, ước chừng là khoảng 7 ngày. Khi ấy, cứ hàng tuần, ta sẽ phải tái thực hiện phương pháp này một lần. Để rồi khi mà anh dần phụ thuộc vào nó cho các mục đích khác ví dụ như duy trì Rặng san hô Great Barrier chẳng hạn, anh sẽ phải sử dụng nó mãi mãi. Nhưng rồi, chắc chắn, sẽ có một nguyên do nào đó khiến anh phải ngừng lại, ví dụ như chiến tranh hoặc bất kì thứ gì, mà một khi đã dừng, anh sẽ được chứng kiến sự ấm lên nhanh và kinh khủng hơn bây giờ rất nhiều.".

 

bong bóng khí nén

Một thảm bong bóng khí nén được phóng ra để cảng Holandsfjord của Nauy không bị đóng băng. Olav Hollingsaeter đang xác định xem liệu ý tưởng này có thể dùng để "diệt bão" được không. (Ảnh: OceanTherm)

 

Những biện pháp nhằm "hack" thời tiết chưa bao giờ nhận được sự đồng tình hoàn toàn. Quản trị bức xạ mặt trời là các phương pháp mà trong đó chúng ta phun các hạt vật chất vào tầng bình lưu để phản xạ lại ánh sáng mặt trời. Có một dự án như vậy được đích thân vị tỷ phú Bill Gates ủng hộ nhưng lại mang tai tiếng là "nhà tỷ phú muốn một tay che cả mặt trời". Hầu hết những dự án gieo mây đều thường đi kèm với cái tai tiếng chung đó là "đóng vai thần thánh". Dẫu vậy nó chẳng hề làm nản lòng những cá nhân đứng đằng sau các ý tưởng kiến tạo môi trường đại dương để diệt bão ngay tại nơi mà nó hình thành.

 

Vào năm 2017, Olav Hollingsaeter, một cựu thủy thủ tàu ngầm Nauy, cùng anh trai Bjorn của ông đã gây dựng lên OceanTherm để tái mục đích những công nghệ đã phổ biến nhằm làm yếu cường độ của bão. Trong những tháng mùa đông ở Nauy, OceanTherm sử dụng "thảm bong bóng" để giải phóng khí nén sâu vào lòng nước. Khí nén sẽ đẩy dòng nước ấm hơn lên mặt nước, giúp các hải cảng không bị đóng băng. Ngược lại, nếu thảm bong bóng được sử dụng ở vùng nước ấm hơn, nó sẽ đẩy phần nước mát lên trên.

 

Hollingsaeter đang đàm phán với giới chức tại các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi bão lũ nằm quanh vùng Vịnh Mexico, nhưng kế hoạch của ông đang gặp khó bởi những lo ngại về đạo đức và pháp luật. Một dự án "diệt bão" tương tự khác do Alan Blumberg, một nhà hải dương học từng thử làm mát bề mặt đại dương bằng việc bơm nước mát lên trên, trả lời với báo Washington Post vào năm 2019 rằng nghiên cứu của ông đã phải ngừng lại vì người ta sợ rằng nó có thể thay đổi điểm đếm của cơn bão hoặc làm tăng ảnh hưởng của lũ lụt.

 

Trong khi đó, Hollingsaeter khẳng định rằng thiết kế mới của ông đã khắc phục những điểm yếu trong kế hoạch của Blumberg. "Khi ta bơm nước lên, do nước mát nặng hơn, nên chúng sẽ lại nhanh chóng chìm xuống. Nhưng thảm bong bong thì lại giúptrung hòa nhiệt độ nước, từ đó tạo ra lớp nước mặt mát và dày.", ông giải thích.

 

Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng chẳng ai biết chắc được liệu phương pháp làm mát nước mặt có giúp thay đổi hướng đi hay sức tàn phá của cơn bão hay không nhưng theo ông thì những lợi ích tiềm tàng của nó rất đáng để nghiên cứu thêm.

 

Khôi phục hệ sinh thái bờ biển có lẽ là biện pháp dễ dàng thực hiện hơn. Hiện có ba loại hệ sinh thái "carbon xanh dương" quanh bờ biển có thể lưu trữ carbon trong trầm tích hoặc đất gồm: rừng ngập mặn, đầm lầy nước mặn và cỏ biển. Cả ba loại hệ sinh thái trên hiện đang hấp thụ nhiều carbon hơn cả rừng trên đất liền, và phần carbon được lưu trữ chỉ có thể thoát ra nếu hệ sinh thái bị phá hủy.

 

Tiếc rằng đây lại chính là hiện trạng của phân nửa số rừng và đầm lầy ngập mặn của thế giới bởi xu hướng phá hủy cảnh quan tự nhiên dọc bờ biển. Chỉ tính ở Anh, hơn 90% đồng cỏ biển đã bị phá hủy trong quá trình phát triển ven biển, hoặc do va phải mỏ neo và ô nhiễm tảo biển.

 

Hiện cũng có nhiều nơi đang cố gắng khôi phục hệ sinh thái kiểu này, đồng thời kích thích sự tăng trưởng của tảo bẹ, loại thực vật biển có thể thấp thụ khoảng 600 triệu tấn CO2 trên toàn cầu mỗi năm. Khôi phục là vấn đề của mỗi địa phương: tại Anh, Dự án Seagrass đang giúp chăng dây và gieo hạt để tạo ra những đồng cỏ biển mới, sáng kiến Bờ biển Hoang dã Đảo Wallasea ở Essex đang bồi đắp lên các đầm lầy nước mặn từ đất sét, vôi và sỏi đá thu được từ quá trình đào hầm Crossrail ở London. Tại Kenya, nơi mà người ta sử dụng rừng ngập mặn để làm than củi, dựng tàu và làm mộc, các tổ chức bảo tồn đang bắt tay làm việc để tạo ra những dự án dài hạn giúp phục hồi hệ sinh thái.

 

Nhưng Gattuso lại tin rằng, dù những hệ sinh thái carbon xanh dương này cần được bảo vệ và phục hồi thì những tác động tiềm tàng của chúng lên khí hậu cũng rất giới hạn. Trong khi đó, những biện pháp sử dụng đại dương khác mà không đòi hỏi việc phải phục hồi tự nhiên "lại đang đều ở giai đoạn ý tưởng hoặc rủi ro", ông nói.

 

"Tôi mong rằng các quốc gia sẽ ít chú trọng hơn vào hướng tiếp cận trên và quay lại với phương thức phổ biến, an toàn và hiệu quả nhất đó là cắt giảm nguồn phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Đây mới chính là điều cấp bách nhất.", ông bổ sung.

 

rừng tảo bẹ

Tia nắng le lói qua rừng tảo bẹ ngoài khơi Đảo Anacapa của California. Các rừng tảo bẹ trên toàn thế giới đang giúp hấp thụ khoảng 600 triệu tấn CO2 mỗi năm. (Ảnh: Douglas Klug/Getty)

 

Green biết rằng Project Vesta sẽ phải đối mặt với rất nhiều ý kiến trái chiều. Và ông cũng nhận thức được rằng không chỉ chính trị gia hay các nhà bảo vệ môi trường là những người duy nhất cần thuyết phục, mà đó còn là cả những cộng đồng đang sinh sống dọc bờ biển nơi mà dự án của ông đang hoạt động. Họ là những người cần được tiếp xúc, được "giải thích về những thứ mà chúng tôi đang làm, giải đáp mọi khúc mắc và được đóng góp vào quá trình quyết định", ông nói trong khi khẳng định rằng kế hoạch của mình là bắt đầu từ từ, thử nghiệm, giám sát rồi dần dần tiến tới nếu thỏa mãn, quá trình thực hiện sẽ đi theo nhiều giai đoạn khác nhau. "Đây là một tiến trình rất cẩn trọng, mạnh mẽ, nghiêm ngặt và khoa học."

 

Ông tin rằng lợi ích từ quá trình này có thể là rất lớn. Phong hóa hoàn toàn có thể trở thành một phương pháp rẻ tiền để loại bỏ carbon và ông còn khẳng định rằng lượng CO2 loại bỏ được sẽ lớn hơn 20 lần so với lượng thải ra từ quá trình khai thác và vận chuyển olivin. Hơn nữa, không giống với các ý tưởng lưu trữ carbon trên đất liền, carbon đã "niêm phong" bởi phong hóa không thể quay ngược tiến trình được, một khác so với các hệ thống hầm chứa ngầm với nguy cơ rò rỉ luôn thường trực. Một tác dụng phụ tích cực khác chính là quá trình phong hóa giúp tạo ra carbon "giống với baking soda, thứ có thể khử axit đại dương".

 

Project Vesta bắt đầu bằng nguồn quỹ từ thiện và trợ cấp, nhưng ông Green dự kiến rằng doanh số bán ra của tín dụng carbon có thể sẽ giúp dự án này mở rộng. "Hầu hết các quốc gia sẽ không thể hoàn thành mục tiêu cắt giảm khí thải của mình và cần đền bù cho phần xót lại bằng tín dụng carbon", ông Green khẳng định.

 

Những người chỉ trích lo sợ rằng thay vì trở thành một cách để đạt được mục tiêu cân bằng carbon thì nó sẽ trở thành cái giấy phép để tiếp tục đốt nhiên liệu hóa thạch. "Một vài người nói với tôi rằng ‘chẳng phải điều này sẽ tạo ra một thảm họa đạo đức mới à?', ‘Liệu nó có phá vỡ cái động lực giúp người ta cắt giảm khí thải hay không?' Và câu trả lời rất rõ ràng chính là: chúng ta cần cả hai.", ông nói.

 

Ông tin rằng, cuối cùng thì thị trường carbon sẽ "tự khắc phục được vấn đề. Nếu các công ty buộc phải cân bằng carbon, và chi phí phát thải carbon được tính vào tất cả mọi thứ, một công ty có thể quyết định xem đâu là lựa chọn phù hợp hơn: thay thế toàn hộ hệ thống bằng phương tiện sử dụng điện hay cứ giữ hệ thống sử dụng khí đốt hiện có và trả tiền cho khí thải carbon phát sinh."

 

Wadhams cũng có suy nghĩ thực dụng tương đồng như vậy khi nói về vấn đề đạo đức trong kiến tạo môi trường đại dương để cứu lấy khí hậu. Đối với anh, thảm họa rò rỉ khí metan ở dưới lớp băng của Bắc Cực giống như cảnh cao trào trong một bộ phim hành động mà ở đó chúng ta – con người – chẳng còn nhiều "đất diễn" để cứu lấy hành tinh của mình.

 

Trung ND (Theo The Guardian/Vnreview)

0 người thích


Ông chủ Alibaba: "Nhỏ mới đẹp"